Trang chủ » Công nghệ » Công nghệ đúc hẫng cân bằng

Công nghệ đúc hẫng cân bằng

CẦU MỸ QUAN

Cầu Gateshead Millennium, Anh

Cầu Sri Wawasan, Putrajaya, Malaysia

Cầu Helix, Vịnh Marina, Singapore

Cầu Stairway to Heaven

Cầu Loop

Cầu The Gator

Cầu Big Screen

Cầu Vịnh

Cầu Trift Suspension, Switzerland

Cầu Samuel Beckett

Cầu Confederation, đảo Hoàng tử Edward, Canada

Cầu Lupu, Thượng Hải, Trung Quốc

THỐNG KÊ

Flag Counter

THỐNG KÊ BLOG

  • 20,264 hits

QUẢN LÝ

Get a free account @traconec.wordpress.com
 Cầu BTCT DUL nhịp lớn mà kết cấu nhịp thường được thi công từ 1 trụ hoặc nhiều trụ bằng thiết bị giá đỡ ván khuôn (xe đúc). Thông thường việc thi công kết cấu dầm được bắt đầu từ khối dầm trên đỉnh trụ, sau đó các phân đoạn dầm khoảng từ 3m – 5m được thi công đối xứng qua khối đỉnh trụ lần lượt từng cặp khối một về 2 phía. Kết thúc thi công mỗi nhịp bằng khối hợp long giữa nhịp đó.

Các bó cáp DƯL được bố trí tùy thuộc vào biểu đồ mômen cánh hẫng với lượng bó cáp tập trung cao nhất ở trên trụ và giảm dần về 2 phía 2 nhịp bên.

Việc sử dụng phương pháp thi công hẫng cân bằng cho các cầu BTCT DƯL có nhịp trung và lớn có nhiều lợi thế, đặc biệt trong điều kiện khó khăn hay không thể thi công hệ đà giáo như các trường hợp qua thung lũng sâu, sông rộng, khoảng diện tích phía dưới có giao thông đi lại hay trường hợp nền đất yếu phải đầu tư nhiều chi phí cho móng hệ đà giáo.

Công trình tiêu biểu:

– Cầu Phú Lương, nhịp chính 102m

– Cầu Vĩnh Tuy: Lp =135 mét.

– Cầu Hàm Luông: Lp = 150 mét.

– Cầu Cẩm Lệ: Lp = 63 mét.

Sau đây là Thuyết minh biện pháp thi công công nghệ đúc hẫng cầu Cẩm Lệ.

I. Giới thiệu chung

Trong những năm gần đây ngành thi công cầu ở Việt nam đã có những chuyển biến đáng kể trong việc đầu tư vào công nghệ thi công, một trong những công nghệ đó là “Công nghệ thi công dầm hộp liên tục bê tông cốt thép dự ứng lực bằng phương pháp đúc hẫng cân bằng” (gọi tắt là công nghệ đúc hẫng)
áp dụng cho thi công kết cấu nhịp bằng BTCT DƯL của các cầu liên tục khẩu độ lớn. Lần đầu tiên công nghệ này được áp dụng tại công trình cầu Phú lương (trên Quốc lộ 5), công ty Cầu 12 đã nhập và tiếp nhận chuyển giao hoàn chỉnh, trực tiếp công nghệ đúc hẫng cùng toàn bộ thiết bị xe đúc đi kèm từ hãng VSL (Thụy Sỹ). Công nghệ đúc hẫng này đã được cán bộ, công nhân, các kỹ sư của Công ty cầu 12 tiếp nhận nghiêm túc và sử dụng thành thạo trên công trình cầu Phú lương, sau đó lẫn lượt được áp dụng trên các công trình: cầu Tiên Cựu (Hải phòng), cầu Lạc Quần (Nam định), cầu Hoà Bình ( thị xã Hoà bình), cầu Bợ (Tuyên Quang), cầu An Dương II (Hải Phòng), cầu Bắc Giang, cầu Đuống mới, cầu Quán Hầu (Quảng Bình) thành công tốt đẹp, được các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá rất cao về chất lượng của công trình và hiện nay đang thi triển khai thi công ở: cầu Tân Yên (Tuyên Quang), cầu Trần Phú (Nha trang), cầu Nguyễn Tri Phương và Chánh Hưng (TP Hồ Chí Minh), cầu Tân Đệ (Thái Bình) .

Đặc biệt trong quá trình thi công, căn cứ vào công nghệ đúc hẫng đã có và kinh nghiệm của chính mình, Công ty cầu 12 đã tự nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công xe đúc hẫng – một thiết bị chủ yếu, quan trọng của công nghệ đúc hẫng. Loại xe đúc này đã và đang tham gia vào thi công tại các cầu: An Dương II, Lạc Quần, Hoà Bình, Tân Yên, Trân Phú … và đã chứng tỏ tính năng không thua kém loại xe đúc đã nhập của VSL.

Cầu Cẩm Lệ là một cầu lớn tại Km 0 + 715.15 tuyến Cẩm Lệ – Miếu Bông nối QL I và QL 14B. Cầu bắc qua sông cẩm Lệ thuộc địa phận huyện Hoà Vang, TP Đà Nẵng. Kết cấu nhịp bằng BTCT DƯL bố trí theo sơ đồ : 42m + 5 x 63m + 42m = 399m. Mặt cắt ngang dạng hộp thành xiên với chiều cao thay đổi từ 1.8 đến 3.8m. Độ xiên của thành hộp là 10/1.

Căn cứ vào yêu cầu của tiến độ thi công, kế hoạch cân đối thiết bị của mình, Công ty Cầu 12 dự kiến sẽ đưa cả hai loại xe đúc của VSL và tự chế tạo của mình vào tham gia thi công kết cấu nhịp cầu Cẩm Lệ.

II. Công nghệ thi công

Trình tự thi công các khối của dầm hộp liên tục bằng xe đúc hẫng đối xứng qua tim trụ:

+ Thi công khối đỉnh trụ (K0): Khối K0 trên đỉnh trụ được thi công trên đà giáo mở rộng trụ.
+ Thi công các khối của dầm hẫng
+ Thi công đoạn dầm trên đà giáo
+ Thi công khối hợp long

2.1. THI CÔNG KHỐI ĐỈNH TRỤ

Khối đỉnh trụ (hình 1) là khối lớn nhất trong dầm nằm trên đỉnh của thân trụ. Để giữ ổn định của dầm hẫng trong qúa trình đúc hẫng, người ta dùng các thanh ứng suất 32 neo khối đỉnh trụ xuống thân trụ. Đối với các trụ T2, T3, T5, T6 và T7 người ta còn dùng các khối kê tạm bằng BTCT để kê đỡ khối đỉnh trụ. Sau khi hợp long các nhịp dầm hẫng, các thanh ứng suất này và các khối bê tông kê tạm sẽ được tháo ra và gối cầu bắt đầu chịu lực.
Khối đỉnh trụ được đúc trên đà giáo (hình 2). Đà giáo để thi công các khối này cấu tạo từ thép hình và được lắp đặt từ khi thi công trụ. Cấu tạo của đà giáo có thiết kế riêng.

Hình 1. Sơ họa khối đỉnh trụ

Hình 2. Bố trí chung đà giáo thi công khối đỉnh trụ

Công việc đổ bê tông cho khối đỉnh trụ được chia làm 2 đợt (hình 3):
+ Đợt 1: đổ bê tông cho bản đáy
+ Đợt 2: đổ bê tông tường ngăn
+ Đợt 3: đổ bê tông tường ngoài và bản mặt.

Hình 3. Phân đợt đổ bê tông cho khối đỉnh trụ

(a) Lắp đặt thanh ứng suất 32
Thanh ứng suất 32 là thanh thép dự ứng lực, chúng làm nhiệm vụ neo khối đỉnh trụ xuống thân trụ để giữ ổn định cho dầm hẫng trong qúa trình đúc hẫng nên chúng được lắp đặt từ khi thi công thân trụ.
Các chỉ tiêu kỹ thuật của thanh ứng suất 32:
+ đường kính danh định : 32 mm
+ Diện tích thực tế: 804 mm2
+ Cường độ chịu kéo: 1080 Mpa
+ Khả năng chịu kéo tới hạn: 868 KN
+ Lực kéo khai thác: 607.6 KN
Đi kèm đồng bộ với thanh ứng suất 32 còn có:

+ bản đệm thép kích thước: 150x180x50mm hoặc 150x150x50mm
+ đai ốc phẳng hoặc đai ốc hình cầu
+ vòng đệm phẳng hoặc vòng đệm hình cầu
+ đai ốc hãm
+ cút nối thanh ứng suất

Khi sử dụng thanh ứng suất, cần chú ý những điểm sau đây:

+ không được hàn
+ không được để chạm vào dây mát của máy hàn
+ không được uốn cong thanh
+ không va chạm mạnh vào thanh vì có thể làm cho thanh bị nứt hoặc vỡ ren, hoặc làm thay đổi trạng thái ứng suất của thanh
+ không được dùng thanh ứng suất làm kết cấu chịu nén.

Tất cả các thanh ứng suất trước khi đưa vào sử dụng phải được kéo thử trên giá tại hiện trường tới lực kéo bằng 60% khả năng chịu lực tới hạn theo trình tự được quy định (xem phụ lục1). Trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được sử dụng thanh ứng suất quá 80% khả năng chịu lực tới hạn. Trình tự lắp đặt thanh ứng suất như sau:

Bước 1: Lắp đặt thanh ứng suất dài 4 m và 2 m (hoặc chiều dài có quy định cụ thể trong bản vẽ mà kỹ sư thiết kế chỉ rõ) nằm trong thân trụ. Cần chú ý rằng cao độ đỉnh các thanh ứng suất phải thấp hơn cao độ đỉnh của thân trụ để sau này chúng không cản trở việc tháo gối tạm. Chi tiết của việc bố trí thanh ứng suất xem bản vẽ số 17 trong tập Bản vẽ thi công.

Cần đặc biệt lưu ý hiện tượng “đề xe” của cút nối khi nối đoạn thanh nằm trong khối K0 với đoạn dưới. Đề phòng hiện tượng này, đầu dưới của cút nối phải được cố định bằng các dây buộc 2mm buộc chặt xung quanh thanh, bên ngoài được cuốn băng dính sao cho khi lắp thanh này, cút nối phải cố định không được xoay.

Bước 2: Lắp đặt ống ghen cho đoạn thanh dưới và thanh trên

Ống ghen có nhiệm vụ bảo vệ thanh ứng suất trong quá trình đổ bê tông, không cho vữa bê tông tiếp xúc với thanh ứng suất. Để làm được việc đó, ống ghen phải đảm bảo độ kín khít.
Để cố định vị trí ống ghen theo phương thẳng đứng (độ nghiêng không vượt quá 10/00), cần phải bố trí các lưới thép 12, theo chiều cao cứ 0,5m bố trí một lưới. Các lưới thép này kẹp chặt vào ống ghen và được cố định vị trí vào cốt thép của kết cấu.
Phần tiếp xúc của ống ghen với bản đệm (đáy ống ghen) và xung quanh lỗ bơm vữa phải được cuốn băng dính bọc kín. Băng dính dùng loại băng dính rộng bản.

Bước 3: Lắp đặt đoạn thanh nằm trong khối đỉnh trụ.

Các đoạn thanh nằm trong khối đỉnh trụ sẽ được nối với các đoạn thanh nằm trong thân trụ. Công việc này chỉ tiến hành khi bắt đầu thi công khối đỉnh trụ. Vì thời gian từ lúc thi công xong trụ đến khi bắt đầu thi công khối đỉnh trụ khá dài nên việc kiểm tra lại vị trí của cút nối đã đặt ở đỉnh thanh ứng suất nằm trong thân trụ là hết sức cần thiết. Có ba điểm chính cần kiểm tra:

+ Cút nối phải được liên kết với thanh ứng suất bằng 1/2 chiều dài của nó.

+ Kiểm tra mức đổ rỉ của gen. Các rỉ sắt phải được loại bỏ hết, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lắp thanh ứng suất trên được dễ dàng.

+ Kiểm tra dây buộc để chống cút nối bị xoay, dây dùng loại dây thép 2mm và được buộc vào thanh ứng suất tại đáy ống nối.

Đoạn thanh ứng suất nằm trong khối đỉnh trụ được quấn chặt xung quanh bằng một sợi dây thép buộc 2mm tại vị trí cách đầu thanh một đoạn bằng 1/2 chiều dài cút nối, đầu thanh này sẽ được xoay vào trong cút nối để nối liền với các thanh nằm trong thân trụ. Điều quan trọng nhất là mối nối phải đảm bảo nằm ở chính giữa cút nối.

Phía đỉnh của thanh ứng suất phải có giá đỡ để giữ ổn định. Các giá đỡ có thể được cố định chặt vào ván khuôn thành ngoài của khối đỉnh trụ. Ống ghen được lắp đặt sau khi đã lắp và ổn định vị trí cho thanh ứng suất. Phần tiếp xúc giữa ống ghen và khối kê tạm được quấn kín bằng băng dính. Đỉnh của ống ghen phải được đậy kín để tránh cho bê tông rơi vào trong lúc đổ bê tông. Để giữ cho ống ghen thẳng đứng theo yêu cầu, dùng các lưới thép 12 kẹp chặt vào thành ống, theo chiều cao cứ 0,5m bố trí một lưới. Các lưới này được liên kết vào cốt thép của khối đỉnh trụ.


Hình 4. Mối nối thanh ứng suất
Hình 5. Định vị ống ghen thanh ứng suất

(b) Lắp đặt các khối bê tông kê tạm (gối kê tạm)
Cùng với thanh ứng suất, các khối bê tông kê tạm làm nhiệm vụ giữ ổn định cho dầm hẫng trong qúa trình đúc hẫng (Trừ các trụ kiểu khung). Chúng sẽ được tháo ra khi tiến trình đúc hẫng đã hoàn thành.
Các khối bê tông kê tạm là cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn. Phần tiếp xúc giữa mặt đáy của khối kê tạm với đỉnh trụ là một lớp vữa xi măng cát dầy tối thiểu 3cm. Lớp vữa này chính là chỗ để sau này khoan phá tháo các khối bê tông kê tạm. Mặt trên của các khối kê tạm được phủ một lớp vải nhựa cứng dầy 1mm ngăn cách với bê tông của khối đỉnh trụ.
Khi đúc các khối bê tông kê tạm cần chú ý đến vị trí các lỗ cho thanh ứng suất xuyên qua. Vị trí của các lỗ đó phải trùng với vị trí các lỗ đã được bố trí trong trụ.
Trình tự lắp đặt các khối bê tông kê tạm qua các bước như sau:
Bước 1: Định vị

Căn cứ vào tim dọc và tìm ngang cầu để xác định vị trí. Cao độ của các khối kê tạm cho phép sai số tối đa 5mm. Mỗi khối kê tạm được đặt trên 4 chiếc nêm gỗ nhỏ để điều chỉnh cao độ và để tạo khe hở cho lớp vữa dày tối thiểu 3cm dưới đáy của chúng.

Vị trí và cao độ của các khối kê tạm có ảnh hưởng đến việc lắp đặt ván khuôn của khối đỉnh trụ, do đó cần hết sức chú ý, đặc biệt là kích thước theo chiều ngang cầu.

Bước 2: Trộn và nhét vữa vào khe hở giữa đáy khối kê tạm và đỉnh thân trụ.

Vữa dùng để nhét vào khe hở là loại vữa khô mác cao, thành phần gồm xi măng, cát và nước. Tuỳ thuộc vào loại xi măng, cát mà thiết kế cấp phối vữa cho phù hợp, trước khi sử dụng vữa phải thí nghiệm đạt các yêu cầu kỹ thuật.

Xi măng dùng để trộn vữa phải là loại xi măng mới, cát phải khô và được sàng loại bỏ hết các hạt to lẫn trong cát và được cân trước chính xác trọng lượng tương ứng với trọng lượng của một bao xi măng. Vữa được trộn theo trình tự sau: đầu tiên trộn xi măng và cát với nhau thật đều, sau đó dùng ống nghiệm đo nước và đổ dần vào hỗn hợp cát-xi măng và tiếp tục trộn. Quan sát bằng mắt nếu thấy vữa có màu sắc đồng đều là được. Có thể kiểm tra vữa bằng cách dùng tay nắm một ít vữa trong lòng bàn tay sau đó mở tay ra nếu nắm vữa không bị vỡ là được.

Cạnh miệng của khe hở để nhét vữa nên đặt một tấm tôn làm máng. Dùng các xô nhỏ vận chuyển vữa đổ vào máng, sau đó dùng các thanh tre tiết diện 4×1,5cm dài khoảng 1m đẩy vữa vào trong khe theo trình tự từ vị trí xa nhất (mép phía bên kia của khối kê tạm) đến vị trí gần nhất. Trong lúc đẩy vữa cần chú ý không được chọc vào trong ống gen làm vỡ ống, tránh hiện tượng vữa rơi vào trong ống. Khi lượng vữa đã đủ lấp đầy khe hở, dùng búa và nêm gỗ đóng chèn chặt xung quanh khối kê tạm.
Công tác bảo dưỡng sau khi hoàn thành công việc chèn vữa là cần thiết. Dùng các bao tải ẩm phủ phía ngoài khe hở trong thời gian 7 ngày. Khi các bao tải đó khô lại đem nhúng vào nước sạch, vắt kiệt nước rồi mới phủ vào mặt vữa.

Hình 6. Phương pháp nhồi vữa cho gối kê tạm

(c) Phương pháp lắp đặt gối chính

Gối chính là một bộ phận quan trọng của cầu làm nhiệm vụ truyền tải trọng từ kết cấu nhịp xuống mố trụ. Trong công nghệ đúc hẫng, gối chính chỉ chịu lực sau khi đã tháo xong gối kê tạm. Gối chính dùng cho cầu Cẩm Lệ là loại gối Glacier. Cấu tạo của gối gồm có hai bộ phận chính thớt trên, thớt dưới. Ngoài ra còn các chân neo (socket) làm nhiệm vụ neo các thớt gối vào đỉnh trụ và đáy dầm. Có hai loại gối:

+ Gối cố định: Hầu như không có bất kỳ sự dịch chuyển tương đối nào giữa hai thớt gối.

+ Gối di động:Thớt trên của gối có thể chuyển động (trượt) theo một hoặc cả hai hướng (gọi là gối di động) Trình tự lắp đặt gối qua các bước như sau:

Bước 1: Vệ sinh, đục nhám bề mặt trụ và các lỗ chân neo trong trụ

Trong bước này, bề mặt trụ và các lỗ chân neo của thớt dưới trong trụ phải được tạo nhám, dùng bàn chải cọ rửa để boại bỏ hết bùn đất, các chất bẩn trên bề mặt và trong các lỗ chân neo. Công việc tạo nhám phải làm trên diện tích 100% bề mặt, sau đó phải làm sạch bề mặt.

Bước 2: Lắp đặt gối

Về nguyên tắc gối chính không tham gia chịu lực trong suốt quá trình thi công đúc hẫng và chỉ bắt đầu làm việc sau khi phá bỏ gối kê tạm. Việc lắp đặt gối phải tuân theo bản vẽ thiết kế theo trình tự sau:

Đ Xác định tim dọc và tim ngang của trụ

Đ Lắp đặt thớt dưới của gối: Căn cứ vào bản vẽ do kỹ sư thiết kế bố trí mà xác định hướng của thớt gối. Xác định tim dọc và tim ngang của thớt gối. Đặt thớt dưới của gối ngồi trên 4 chiếc nêm thép để điều chỉnh cao độ sao cho tim ngang thớt gối trùng với tim ngang trụ và tim dọc của nó song song và cách tim dọc cầu một khoảng theo đúng bản vẽ thiết kế. Dùng máy thuỷ bình kiểm tra cao độ.

Đ Lắp đặt thớt trên của gối: Thớt trên và thớt dưới liên kết với nhau bằng 4 bu-lông ở 4 góc. Trước khi đặt thớt trên, cần xác định chính xác hướng chuyển vị của thớt gối. Trên mặt của thớt trên có ghi các giá trị chuyển vị của thớt gối theo một hoặc hai hướng (hướng dọc và hướng ngang cầu). Vấn đề này có liên quan đến chuyển vị của gối khi căng kéo toàn bộ cáp đáy cũng như khi cầu đưa vào khai thác.

Đ Xiết chặt 4 con bu-lông liên kết hai thớt gối và kiểm tra cao độ cuối cùng tại thớt trên của gối.

Đ Tháo hai con bu-lông gần tim dọc cầu.

Hình 7. Cấu tạo gối cầu

Các chú ý khi lắp đặt gối chính:

ỉ Các lỗ chờ của chân neo thớt dưới khi thi công nên đặt các ống bơm vữa để tiện lợi cho công tác vệ sinh lỗ và bơm vữa sau này.

ỉ Các bu-lông liên kết giữa chân neo với các thớt gối phải xiết chặt đủ lực yêu cầu.
ỉ Các nêm thép đỡ thớt dưới không nên đặt song song với tim dọc cầu vì nó sẽ cản trở việc bơm vữa lấp đầy hố neo và khe hở giữa thớt gối với trụ sau này.

ỉ Ván khuôn bao quanh thớt dưới gối cho công tác bơm vữa sau này phải cao hơn mặt dưới của thớt dưới gối tối thiểu 5mm. Lớp vữa xi măng làm kín chân ván khuôn trát ở 3 mặt: mặt trong và hai mặt bên, riêng mặt ngoài để trống. Điều này sẽ thuận tiện cho công tác vệ sinh lại gối trước khi bơm vữa.

ỉ Trước khi lắp gối phải xem xét kỹ với sự có mặt của kỹ sư tư vấn giám sát hiện trường:

ỉ Cao độ tim hai gối trên trụ chênh lệch trong phạm vi cho phép. Gối không bị nghiêng lệch , theo mỗi phương độ nghiêng không quá vượt qúa phạm vi cho phép của quy trình thiết kế, khi đặt gối phải đặt đúng chủng loại và phải đặt đúng hướng chuyển vị của gối.

(d) Phương pháp lắp đặt ván khuôn đáy, ván khuôn thành ngoài, ván khuôn đầu bản đáy và đổ bê tông đợt một:

Các ván khuôn để thi công khối đỉnh trụ được đặt trên đà giáo đã được xây dựng từ khi thi công trụ. Việc đặt ván khuôn đáy được thực hiện bằng cẩu và pa-lăng xích treo vào 4 góc. Các pa-lăng xích này làm nhiệm vụ chỉnh cao độ ván khuôn đáy một cách tương đối. Khi ván khuôn đáy đã sơ bộ ổn định vị trí trên các nêm gỗ, để điều chỉnh chính xác cao độ cũng như tim dọc, tim ngang của nó phải dùng kích. Ván khuôn đáy được cố định vị trí bằng các thanh thép góc hàn chống giữa đỉnh của đà giáo với đaý của nó.

Khi đặt các tấm ván khuôn thành ngoài, phải đảm bảo được kích thước hình học của khối đỉnh trụ. Các tấm ván khuôn thành ngoài cũng được cố định vị trí xuống đà giáo. Trên đỉnh của chúng được bố trí các giá đỡ thanh ứng suất của khối đỉnh trụ.

Việc lắp đặt cốt thép sẽ được tiến hành sau khi đã nghiệm thu cao độ và vị trí của ván khuôn.

Công việc đổ bê tông nên tiến hành theo trình tự từ tim ngang của khối đỉnh trụ ra hai phía. Tuỳ thuộc vào tính chất của bê tông, loại phụ gia sử dụng, nhiệt độ thi công mà tính toán khả năng cung cấp bê tông cho phù hợp, tránh tình trạng thời gian đổ giữa các lớp quá dài. Nói chung, thời gian cho một lần đổ bê tông không vượt qúa thời gian cung cấp bê tông của máy trộn bê tông hiện có. Công tác đầm bê tông cần chú ý ở những nơi có bố trí cốt thép dày đặc.

Hình 8. Bố trí ván khuôn cho khối đỉnh trụ

Bảo dưỡng bê tông: Công tác bảo dưỡng bê tông được bắt đầu từ lúc nước dư trên bề mặt bê tông đã bay hơi hết (thông thường về mùa hè sau khi đổ bê tông 3 đến 4 tiếng, mùa đông từ 4 đến 6 tiếng,thời gian bảo dưỡng liên tục trong 7 ngày.

(e) Phương pháp lắp đặt ván khuôn cửa sổ, ván khuôn tường ngăn và đổ bê tông đợt 2

Các cửa sổ là các lỗ vĩnh cửu được bố trí trong các khối đỉnh trụ để đi lại, vận chuyển vật tư thiết bị hoặc neo các kết cấu thi công. Ván khuôn cho cửa sổ và ván khuôn tường ngăn có thể được làm bằng gỗ hoặc bằng thép. Thông thường chúng được làm bằng gỗ với các khung xương được cấu tạo hợp lý đảm bảo cho công tác tháo ván khuôn được dễ dàng.

Trước khi lắp ván khuôn, cốt thép của đợt 2 cho vách ngăn và vị trí của thanh ứng suất phải được đặt và nghiệm thu hoàn chỉnh.

Trình tự đặt ván khuôn như sau: trước hết lắp các ván khuôn cửa sổ, sau đó lắp các ván khuôn lõi. Các ván khuôn lõi được cố định vị trí bằng các thanh chống và các thanh thép xuyên táo. Ván khuôn đầu đốc ngăn cách bê tông giữa đợt 2 và đợt 3 được lắp đặt sau cùng. Cần bố trí các hộc chống cắt tại mối nối thi công giữa bê tông của hai đợt 2 và 3. Công tác nghiệm thu kích thước hình học của ván khuôn cho đợt đổ bê tông thứ 2 sẽ được tiến hành trước khi đổ bê tông. Vì chiều cao của bê tông rơi không lớn hơn 1,5m nên bê tông được đổ vào vị trí bằng các ống vòi voi và phễu.

Bảo dưỡng bê tông: giống phần trước.

(f) Phương pháp lắp đặt khuôn lõi và đổ bê tông đợt 3

Ván khuôn lõi được chia thành mảnh để tiện lắp ráp và điều chỉnh cao độ. Khi lắp ráp nên dùng các pa-lăng xích kết hợp với các cẩu để điều chỉnh sơ bộ, sau đó dùng kích để điều chỉnh chính xác. Ván khuôn phải đặt trên các nêm gỗ có chiều cao tối thiểu 100mm, cạnh các nêm gỗ đều có các thanh thép hàn chống giữ cố định. Việc bố trí vị trí nêm đỡ ở bên dưới phải thích hợp cho công việc tháo ván khuôn.

Công tác cốt thép sẽ được tiến hành sau khi đã nghiệm thu xong ván khuôn.

Khi lắp đặt các ống ghen tạo lỗ cho các bó cáp cần phải đảm bảo chúng nằm đúng vị trí. Để đơn giản có thể dùng một sợi dây căng qua hai vị trí đầu của ống ghen để điều chỉnh vị trí ống theo phương dọc. Cao độ của ống ghen ở hai đầu được kiểm tra bằng máy cao độ, các vị trí khác được đo bằng thước với vị trí chuẩn là sợi dây thép 1 căng qua hai đầu ống ghen.

Ống ghen được cố định vị trí bằng dây thép 6 quàng qua ống và cuốn vào cốt thép thường. Khoảng cách giữa các mối buộc 6 là 1m/cái. Trong lòng các ống ghen đều đặt các ống nhựa PVC 76 chống hiện tượng vữa bê tông chảy vào trong ống.

Bảo dưỡng bê tông như các phần trước.

(h) Phương pháp căng cáp dự ứng lực, căng thanh ứng suất

Chỉ tiến hành căng dự ứng lực khi bê tông đạt cường độ đạt yêu cầu của đồ án thiết kế. Trước khi căng cáp dự ứng lực cho khối đỉnh trụ, các ván khuôn thành ngoài, thành trong và ván khuôn nóc phải tách rời khỏi bề mặt bê tông. Riêng ván khuôn đáy chỉ được tháo ra sau khi đã căng xong cáp (chi tiết về phương pháp luồn và căng cáp sẽ được trình bày ở mục 2.2.7 và 2.2.8).

Các thanh ứng suất giữ ổn định trong qúa trình đúc hẫng, được căng theo từng cấp và đối xứng đến lực yêu cầu.

2.2. THI CÔNG CÁC KHỐI CỦA DẦM HẪNG

Trừ khối đỉnh trụ được đúc trên đà giáo, các khối còn lại của dầm hẫng được đúc hẫng đối xứng trên xe đúc theo các bước sau đây:

2.2.1. Lắp ráp xe đúc

Trước khi lắp ráp xe đúc, toàn bộ việc gia công ván khuôn của xe đã được hoàn thiện. Chỉ được lắp ráp xe đúc lên khối đỉnh trụ sau khi đã căng cáp DƯL và thanh ứng suất của khối đỉnh trụ. Trình tự lắp ráp xe đúc như sau:

Bước 1: công tác chuẩn bị

Kiểm tra toàn bộ vị trí các lỗ chờ bố trí ở bản đáy và bản mặt theo bản vẽ.

Để lắp các bộ phận của xe đúc cần dùng một cần cẩu có sức nâng khoảng 25 tấn với chiều cao nâng 16m là đạt yêu cầu.

Xác định tim dọc, tim ngang cầu tại khối đỉnh trụ.

Chuẩn bị các nêm gỗ theo các loại để kê dầm ray và đặt ở bản đệm của thanh ứng suất.
Chuẩn bị 4 pa-lăng xích từ 0,51.5T và 4 pa-lăng xích từ 1015T.

Bước 2: Lắp đặt dầm ray (hình 9)

Dùng cần cẩu đặt dầm ray vào vị trí của nó và cố định xuống mặt cầu bằng các dầm ngang và thanh ứng suất. Các đai ốc của thanh ứng suất chỉ cần xiết chặt là đủ. Các nêm gỗ ở đáy dầm ray có tác dụng triệt tiêu độ dốc ngang cầu đảm bảo cho dầm ray ở vị trí thẳng đứng .

Hình 9. Lắp đặt dầm ray

Bước 3: Lắp đặt bộ di chuyển

Đối với xe đúc kiểu VSL: Lắp đặt các dầm ngang phía trước và phía sau lên đỉnh dầm ray chú ý đặt bản đệm trượt bằng polime cho dầm ngang phía trước. Gông các dầm ngang phía sau xuống mặt cầu và xiết chặt đai ốc (hình 10).

Đối với xe đúc của Cầu 12 tự chế tạo: Lắp đặt bộ chân chạy phía trước và phía sau lên trên dầm ray, bộ chạy phải được kê giữ chắc chắn.

Hình 10. Lắp đặt bộ di chuyển

Bước 4: Lắp đặt các giàn chính, giàn trước và giàn liên kết ngang phía sau.

Lắp ráp các giàn này từ các chi tiết của nó. Việc lắp ráp này sẽ được tiến hành trên mặt đất hoặc trên hệ nổi tuỳ thuộc vào vị trí của trụ. Dùng cần cẩu lần lượt đặt các giàn chính vào vị trí và liên kết chúng vào các bộ chạy hoặc dầm ngang. Để giữ ổn định cho giàn chính trong bước này cần phải dùng các pa-lăng xích hoặc pa-lăng cáp neo chúng xuống mặt cầu (hình 11).

Hình 11. Lắp đặt các giàn chính

Lắp đặt giàn liên kết ngang phía sau vào các giàn chính (hình 12). Sau đó lắp đặt giàn trước và liên kết chúng với giàn chính. Các thanh ứng suất để treo ván khuôn nóc thành ngoài và ván khuôn nóc vào giàn liên kết ngang phía trước được lắp vào vị trí. Đặt các thanh ứng suất giằng chéo trên đỉnh của giàn chính và xiết chặt đai ốc. Tháo các pa-lăng xích hoặc pa-lăng cáp giữ ổn định cho giàn chính (hình 13).

Hình 12. Lắp giàn liên kết ngang phía sau

Hình 13. Lắp giàn liên kết ngang phía trước

Bước 5: Lắp ván khuôn

Ván khuôn nóc thành ngoài được lắp cùng với dầm lăn và dầm ngang đỡ dầm lăn ngoài. Các thanh ứng suất có nhiệm vụ treo ván khuôn nóc thành ngoài vào giàn ngang phía trước và mặt cầu. Lắp các khung đỡ ổ trượt của dầm trượt phía ngoài.

Đối với ván khuôn nóc, trước tiên phải lắp các khung đã có ổ trượt, các dầm đỡ ván khuôn nóc, sau đó mới đặt ván khuôn nóc vào vị trí.

Ván khuôn thành trong và ván khuôn thành ngoài được lắp vào vị trí và liên kết với ván khuôn nóc và ván khuôn nóc thành ngoài.

Ván khuôn đáy và sàn đáy có trọng lượng lớn nhất trong số các tấm ván khuôn của xe đúc. Chúng được lắp ráp trên mặt đất hoặc trên hệ nổi. Nếu lắp trên mặt đất thì vị trí lắp phải đặt ở ngang bên dưới xe đúc, còn nếu lắp ở trên hệ nổi thì có thể lắp ở bên ngoài sau đó vận chuyển đến vị trí. Dùng 4 pa-lăng xích một đầu treo ở dầm trượt ngoài của ván khuôn nóc thành ngoài , đầu còn lại treo vào ván khuôn đáy, đồng thời kéo 4 pa-lăng xích đưa ván khuôn đáy vào vị trí cuối cùng. Các thanh ứng suất được dùng để treo ván khuôn đáy vào bản đáy của khối đỉnh trụ và vào giàn ngang phía trước của xe đúc. Đặc biệt chú ý mối nối giữa các thanh ứng suất. Mối nối này phải đảm bảo yêu cầu giống như mối nối các thanh ứng suất dùng trong thân trụ và trong khối đỉnh trụ (đã trình bày chi tiết trong bước 3, mục 2.1).

2.2.2. Chỉnh xe đúc

Trước khi chỉnh xe đúc phải kiểm tra vị trí của nó đúng ở vị trí để đổ bê tông.
Có hai yêu cầu chính trong việc chỉnh xe đúc:

Đ Tim dọc của xe phải trùng với tim dọc của hộp dầm.

Đ Tim chân trước của xe cách mép ngoài khối đúc khoảng 50cm (tuỳ theo bản vẽ tổ chức thi công).

Đối với việc điều chỉnh tim dọc có thể lấy một điểm chia đôi dầm treo ván khuôn đáy tại giàn trước của xe đúc làm mốc để chỉnh tim dọc xe. Để điều chỉnh vị trí chân trước có thể dùng các pa-lăng xích để kéo. Đối với xe đúc VSL còn điều chỉnh hai kích ở chân trước của xe để xe đúc ở vị trí nằm ngang.

Khi công việc chỉnh xe đúc đã hoàn thành, dùng kích thông tâm căng 4 thanh ứng suất neo chân sau xuống mặt cầu với một lực 30T cho mỗi thanh.

Các điểm cần chú ý khi điều chỉnh xe đúc:

Đối với xe đúc VSL:

ỉ Xe đúc phải hoàn toàn tách khỏi dầm ray, chân trước ngồi trên kích chân trước, chân sau ngồi lên các chân chống của dầm ngang phía sau. Dầm ngang phía trước và guốc trượt của dầm ngang phía sau ở trạng thái tự do (không tỳ vào dầm ray).
ỉ Sau khi điều chỉnh cao độ, piston của kích chân trước được khoá lại bằng vành khoá an toàn. Kích chân trước được đặt trên một đệm bằng gỗ tứ thiết hoặc bằng thép hình tổ hợp.

Đối với xe đúc của Cầu 12 tự chế tạo:

ỉ Chân trước phải ngồi trực tiếp lên dầm ray (kích chân trước chỉ dùng khi di chuyển xe đúc).

ỉ Chân sau tỳ vào mặt dầm ray thông qua một đệm gỗ tứ thiết sao cho chân chạy phía sau ở trạng thái tự do( không tỳ vào cánh dầm ray).

ỉ Sau khi điều chỉnh, Chân trước xe đúc phải được gông chặt xuống mặt bê tông thông qua một dầm ngang và thanh ứng suất.

2.2.3. Chỉnh cao độ ván khuôn

Cao độ của ván khuôn tại mỗi mặt cắt của mỗi khúc phải tính trước và được ghi vào một biểu mẫu. Cao độ tính toán phải tính đến độ vồng thi công của cầu và biến dạng của xe đúc. Chi tiết về biểu mẫu tính cao độ của ván khuôn xem trong phụ lục 2.

Chỉnh cao độ ván khuôn đáy: hai thanh ứng suất treo ván khuôn đáy với bản đáy của khối trước được xiết chặt sao cho mặt ván khuôn đáy tiếp xúc với mặt bê tông bản đáy. Dùng hai kích thông tâm loại nhỏ kéo thanh ứng suất treo ván khuôn đáy phía ngoài để điều chỉnh cao độ. Kiểm tra cao độ bằng máy thuỷ bình và mia. Kiểm tra tim dọc của ván khuôn bằng máy kinh vĩ. Khi cao độ phía ngoài của ván khuôn đã đạt yêu cầu, xiết chặt đai ốc của hai thanh ứng suất phía ngoài, sau đó dùng kích thông tâm loại nhỏ căng hai thanh ứng suất phía trong với một lực 25 T cho mỗi thanh. Cuối cùng kiểm tra lại cao độ tại điểm đã chỉnh.

Chỉnh cao độ ván khuôn nóc thành ngoài và ván khuôn nóc: về cơ bản giống như chỉnh ván khuôn đáy, chỉ khác có một điểm là lực căng cho các thanh ứng suất neo chúng vào mặt cầu là 10T.

Các điểm cần chú ý khi điều chỉnh cao độ ván khuôn:

ỉ Các dầm thi công theo công nghệ này trong lúc thi công chúng là dầm hẫng, do ảnh hưởng của nhiệt độ, đặc biệt là vào mùa hè, đầu hẫng bị võng xuống, khi chỉnh cao độ của ván khuôn có thể vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày nhưng khi nghiệm thu thông thường phải tiến hành vào sáng sớm, trước khi có ánh nắng mặt trời (nhiệt độ môi trường 25OC) , điều đó sẽ loại bỏ được sai số cao độ do nhiệt độ.

ỉ Để tránh mất vữa bê tông do ván khuôn không kín, tại bề mặt tiếp xúc giữa ván khuôn và khối bê tông đã đổ nên đặt một dải xốp ép chặt giữa chúng.

2.2.4. Đặt ván khuôn đầu đốc (ván khuôn đầu các khối):

Ván khuôn đầu đốc nên làm bằng gỗ dày 1,5cm với các xương bằng gỗ dày 3cm được chế tạo sẵn thành từng mảnh được lắp đặt vào vị trí.

2.2.5. Buộc cốt thép và ống ghen tạo lỗ:

Cốt thép của khối được đặt vào vị trí theo bản vẽ thiết kế theo trình tự: bản đáy, hai bên thành, bản mặt. Đặc biệt chú ý cốt thép tăng cường cục bộ tại các đầu neo.

Các ống ghen tạo lỗ được đặt vào vị trí theo bản vẽ thiết kế và được nối với đầu chờ của các ống ghen đã đặt trong khối đỉnh trụ (hoặc khối đã đúc) bằng các ống nối. Hai đầu ống nối được cuốn kín xung quanh bằng băng dính rộng bản. Các đoạn thép 6 được dùng để cố định ống ghen vào cốt thép thường, chúng được bố trí dọc theo các ống ghen theo khoảng cách 1m/cái.

Các ống nhựa PVC 60 được dùng để tạo lỗ chờ cho thanh ứng suất của các khối tiếp theo. Chân các ống nhựa này được cố định bằng một đoạn gỗ tròn dài khoảng 3cm có đường kính bằng đường kính trong của ống, đỉnh của chúng được cố định bằng các thanh 6 hàn thành ô vuông buộc vào lưới cốt thép thường. Trong lòng ống nhựa đổ đầy cát, trên đỉnh ống buộc kín bằng giấy xi măng chống vữa bê tông rơi vào trong ống.

Các bản đệm neo được đặt vào vị trí theo bản vẽ thiết kế. Trục của bản đệm neo phải trùng với trục của ống ghen và mặt của nó phải vuông góc với trục của ống ghen ở 1m đầu tiên của ống ghen. Các lỗ thoát vữa (hoặc bơm vữa) phải đặt ở phía trên (điểm cao).
Dọc theo mỗi ống ghen nên đặt các ống thăm vữa và đặt ở điểm cao nhất của ống ghen.


2.2.6. Đổ bê tông

Bê tông có thể đổ bằng gầu hoặc bằng máy bơm tuỳ thuộc vào điều kiện công trường. Bê tông được đổ 1 lần cho toàn bộ khối, theo mặt cắt ngang được phân thành các lớp như hình 14.


Hình 14. Trình tự đổ bê tông

Các điểm cần chú ý khi đổ bê tông

ỉ Độ sụt của bê tông phải đảm bảo yêu cầu. Muốn vậy, trước mỗi lần đổ bê tông phải xác định độ ẩm của vật liệu, từ đó tính được lượng nước phù hợp cho cấp phối bê tông.

ỉ Chiều cao của bê tông rơi không được quá 1,5m để tránh hiện tượng phân tầng và sụt chân, bê tông chân thành không giữ được sụt vào bản đáy hộp.

ỉ Đêt tránh hiện tượng bê tông trồi lên ở dưới chân ván khuôn thành trong (lớp 2) thì thời gian giữa lớp 1 và lớp 3 45 phút.

ỉ Khi đổ bê tông cho đáy và thành không được đổ lệch tải quá lớn, tốt nhất chênh cao giữa hai bên thành tối đa là 0,5m.

ỉ Trong lúc đầm bê tông, tại những vị trí gần ống ghen phải chú ý tránh va chạm vào ống ghen làm cho ống ghen có thể bị vỡ. Không được dùng đầm để đẩy bê tông.

ỉ Cần đặc biệt quan tâm đến chất lượng bê tông tại các đầu neo.

ỉ Sau khi đổ bê tông phải dùng “con chuột” để thông tất cả các ống ghen.

2.2.7. Luồn cáp

Tao cáp thuộc loại tao 7 sợi phù hợp với tiêu chuẩn tiêu chuẩn ATM A-416 hoặc loại tương đương.

(a) Các đặc tính của tao cáp:

Đ Đường kính danh định của tao: 12,7 mm

Đ Tải trọng phá hoại: 186 KN

Đ Cáp thuộc loại có độ tự chùng thấp.

Trong mỗi cuộn cáp đều phải có chứng chỉ của nhà máy sản xuất. Các chứng chỉ đó thể hiện đường cong quan hệ giữa tải trọng và độ giãn dài, diện tích đo được, modun đàn hỗi của cáp cho mỗi lô hàng. Người kỹ thuật hiện trường phải có các chứng chỉ này để tính toán sự khác biệt giữa độ dãn dài lý thuyết và thực tế của bó cáp.

Trong bất kỳ trường hợp nào, lực kích đối với mỗi tao cáp cũng không được phép vượt quá 0,80 cường độ cực hạn tối thiểu của cáp.

Kích căng cáp được dùng là loại kích phải phù hợp với bó cáp D.Ư.L về cấu tạo cũng như về lực căng. Kích và đồng hồ áp lực phải được kiểm định trước khi đem vào sử dụng và phải kiểm định định kỳ 6 tháng/1lần hoặc qua 200 lần sử dụng.

Trước khi đưa cáp vào sử dụng phải kiểm tra. Tao cáp phải không có các vảy rỉ sùi, không bị phủ mỡ, không bị bẩn, bị xước. Lớp rỉ xốp phải được rửa sạch trước khi dùng cáp. Các tao cáp không được để tiếp xúc bụi bẩn và phải được giữ ở nơi sạch đã được chuẩn bị cẩn thận.

(b) Lắp ráp thiết bị đẩy và bơm thuỷ lực:

Máy đẩy cáp thuộc loại máy chuyên dụng EMK dùng để đẩy cáp vào trong ống ghen. Việc lắp ráp máy đẩy cáp phải thoả mãn các yêu cầu sau:

Đ Máy đẩy nên bố trí cách đầu neo 1,2m

Đ Hướng của máy đẩy phải trùng với hướng của bó cáp và được cố định cứng ở vị trí này.
Đ Khoảng cách giữa máy đẩy và rulô cáp (giá tách cáp) càng ngắn càng tốt.

Đ Một ống dẫn bằng thép có đường kính trong 20 sẽ được dùng để dẫn hướng tao cáp từ đầu máy đẩy vào ống ghen.

Đ Các ống thuỷ lực nối máy đẩy với bơm phải đúng.

Bơm thuỷ lực khi lắp đặt phải thoả mãn các yêu cầu sau:

Đ Bơm phải ở vị trí nằm ngang

Đ Mức dầu thuỷ lực trong bơm phải đạt yêu cầu

Đ Đèn kiểm tra bơm để gần máy đẩy cáp

Đ Điều khiển từ xa nằm ở cuối cáp (đầu phía bên kia của bó cáp)

(c) Luồn cáp vào máy đẩy:

Đ Trước khi luồn cáp vào máy đẩy, đầu cáp phải được cuốn chặt bằng băng dính đen tránh hiện tượng xổ đầu cáp trong lúc lao cáp

Đ Trình tự luồn cáp vào máy đẩy

– nâng tay kéo lên
– dùng tay đẩy cáp qua máy và ống dẫn
– đóng tay kéo xuống và xoay tăng-đơ vặn nhẹ nhàng xuống dưới để đạt được sự tỳ sát của các con lăn của xích lên trên cáp

Đ Đẩy cáp vào trong ống ghen

– khởi động máy bơm

– đẩy cáp bằng máy với tốc độ chậm cho đến khi cáp nằm trong ống ghen khoảng 2m. Trong khi đẩy lực căng phải được điều chỉnh ngay khi xảy ra hiện tượng cáp trượt trên xích. Chú ý tay kéo không được vặn quá chặt để tránh tổn thất nhiều lực. Sau khi đã đạt lực căng đúng, tay vặn phải cố định lại bằng đai ốc.

Các chú ý trong khi đẩy cáp

ỉ Nên dùng “con chuột” thông ống ghen trước khi đẩy cáp vào ống.

ỉ Để tránh tác động của áp suất cao, phải luôn nhớ tắt dừng máy bằng cách tắt bơm.

ỉ Thường xuyên kiểm tra áp lực của máy bơm.

ỉ Dừng bơm ngay khi cáp đã được luồn sang tới đầu bên kia của bó cáp. Việc này được thực hiện bằng điều khiển từ xa đặt ở đầu ra của bó cáp.

ỉ Không đứng chính diện ở phía đầu ra của tao cáp.

2.2.8. Căng cáp

(a) Lắp đầu neo

Đầu neo phải được vệ sinh sạch sẽ bằng xăng trước khi lắp đặt

Hình 15. Cắt cáp trước khi lắp neo

Chiều dài của đầu bó cáp tính từ mặt bản đệm neo L Chiều dài kích + 15cm cho đầu căng kéo và 0,6m cho đầu không căng kéo. Sau đó chúng được cắt hoặc đặt so le thành bậc, mài vát xung quanh và lắp các mũ dẫn để dễ giàng cho việc lắp đầu neo (hình 15).
Dùng hai chạc dẫn xỏ chéo nhau định vị các tao cáp thành từng hàng tương ứng với các hàng lỗ của đầu neo, sau đó đầu neo được luồn vào các tao cáp.
(b) Đặt nêm (chốt neo)
Trước khi đặt nêm phải kiểm tra chủng loại của nêm đem sử dụng. Nêm phải cùng nhóm với neo, đệm neo và phải phù hợp với đường kính của tao cáp. Nêm được vệ sinh sạch sẽ bằng xăng trước khi lắp đặt.
Đầu neo phải được tỳ sát vào bản đệm.
Dùng một ống thép có đường kính trong 16 – 20 dài khoảng 2m luồn qua từng tao cáp đóng chặt nêm vào lỗ sao cho đầu của các mảnh nêm của một bộ nêm phải phẳng, không so le.
(c) Lắp bản lỗ đệm đầu kích
Dùng 2 chạc dẫn luồn chéo nhau định vị các tao cáp thành hàng tương ứng với các lỗ ở bản đệm đầu kích sau đó bản lỗ đệm đầu kích được luồn qua.
(d) Lắp kích
Kích và đồng hồ áp lực phải được kiểm định trước khi sử dụng.
Kích được treo vào giá bằng một pa-lăng xích 0,5 T để dễ dàng điều chỉnh cao độ của kích trong lúc căng kéo.
Kích được luồn qua các tao cáp thông qua các bản dẫn và được đặt tỳ sát vào bản đệm được cố định vị trí bằng cách đẩy bộ tự kẹp về phía đầu kéo.
(e) Căng cáp
Trước khi căng cáp phải đảm bảo chắc chắn trục của kích trùng với trục của bó cáp tại đầu neo và đầu kích tỳ sát vào bản đệm.
Việc căng cáp chỉ được tiến hành khi bê tông đủ cường độ (R bê tông lúc căng 80% R bê tông thiết kế)
Trình tự căng tiến hành như sau:
Đ Căng so dây: Lực căng so dây không được xác định cụ thể, việc xác định lực này là dựa vào dấu hiệu của kim đồng bắt đầu tăng đều, thông thường áp lực này thường lấy tương ứng với 10% lực căng thiết kế cho bó cáp. Sau đó đánh dấu vị trí bó cáp để đo độ giãn dài.
Đ Lần lượt tăng lực lên theo các cấp 0.2P; 0.4P; 0.6P; 0.8P; 1P; 1.05P với P là lực căng thiết kế (P = 303.105T). Đo độ giãn dài tương ứng với từng cấp lực.
Đ Hạ kích.
Các số liệu liên quan đến quá trình căng kéo phải được ghi lại theo bảng sau:

Việc đo áp lực bơm có tính đến mất mát ở kích và neo là phương pháp chủ yếu để xác định chính xác lực kích. áp lực này đọc thông qua đồng hồ áp lực đã được hiệu chỉnh đặt ở trạm bơm.
Các chú ý trong quá trình căng cáp
ỉ Thông thường tại mỗi khối đúc của dầm hẫng có 2 bó cáp phải căng, chúng được căng đồng thời và đối xứng. Nếu có sự chênh lệch về áp lực thì chỉ được phép chênh lệch một cấp.
ỉ Khi kích căng cáp bắt đầu chịu lực, các pa-lăng xích treo kích phải thả lỏng.
ỉ Hành trình của piston là hữu hạn nên phải luôn chú ý đến độ dãn dài của cáp ứng với từng cấp lực, tránh tình trạng vượt quá hành trình piston.
ỉ Việc tăng áp lực kích phải đều. Khi hạ áp lực kích phải đều và chậm (hiện tượng nêm không neo giữ được cáp hay xảy ra trong lúc hạ áp lực kích do hạ áp lực kích quá nhanh, cáp co lại nhưng không kéo được nêm vào theo).
ỉ Không được đứng chính diện với bó cáp (phía sau kích hoặc neo) khi đang căng.
(f) Đo độ giãn dài của bó cáp (hình 16)
Trước khi tiến hành căng cáp, độ giãn dài của bó cáp cần phải hiệu chỉnh lại căn cứ vào diện tích và modun đàn hồi thực tế của tao cáp lấy từ chứng chỉ của cuộn cáp hoặc kết qủa thí nghiệm.
Độ giãn dài của bó cáp được đo thông qua hành trình của piston kích chạy ra tương ứng với từng cấp áp lực. Một trị số khác cũng được đo để so sánh. Trị số này được đo từ đuôi kích đến một vật rắn cố định vào một tao cáp.
Chi tiết về đo đạc và tính toán độ giãn dài của cáp xem trong phụ lục số 3.

Hình 16. Đo độ giãn dài cáp

Các chú ý khi đo độ giãn dài
ỉ Dụng cụ đo độ giãn dài phải song song với trục của kích (vuông góc với đáy kích) trong lúc đo.
ỉ Độ tụt của nêm ở đầu không căng (hoặc chưa căng) được xác định bằng cách dùng một bản lỗ bằng gỗ luồn qua các tao cáp đến một khoảng cách nhất định tính từ mặt nêm (khoảng 10cm), dùng sơn phun vào các tao cáp để lấy dấu khoảng cách. Công việc này chỉ được tiến hành khi bó cáp đã được kéo “so dây”.
ỉ Đối với các bó cáp căng hai đầu, đầu kia sẽ được căng sau khi đã căng xong một đầu đến áp lực thiết kế. Trước khi căng, piston kích được đẩy ra một đoạn tối thiểu 30mm để đảm bảo an toàn cho kích.
(g) Tháo kích
Trình tự tháo kích như sau:
Đ Truyền hết tải trọng từ kích vào đầu neo (áp lực đồng hồ về 0)
Đ Co hết piston về (hồi kích)
Đ Kéo kích ra bằng cách kéo tay cầm bản kẹp ở phía đuôi kích
2.2.9. Bơm vữa
Sau khi tháo kích, các đoạn thừa của bó cáp phải được cắt bỏ. Vị trí cắt cách đầu neo 3cm và phải cắt bằng máy cơ khí (nghiêm cấm dùng các biện pháp cắt bằng nhiệt như đèn xì ô xy – a xê ty len hay hàn hồ quang…).
Đầu neo hở ra được bịt kín bằng bê tông cùng cấp với bê tông Dầm. Ống bơm vữa phải được đặt vào vị trí trước khi đổ bê tông bịt đầu neo và bề mặt của đầu neo, bản đệm phải được vệ sinh thật sạch. Bề mặt bê tông tại đây cần tạo nhám để tăng độ dính bám với bê tông bịt đầu neo.
Chỉ tiến hành bơm vữa khi bê tông bịt đầu neo đã đủ cường độ (sau khi đổ bê tông bịt đầu neo xong khoảng 1,5 ngày).
Vữa bao gồm có xi măng, nước và phụ gia. Vữa bơm được thiết kế tại phòng thí nghiệm phải đảm bảo các tính chất sau:
Đ Xi măng dùng cùng loại với bê tông dầm
Đ Nước dùng loại nước đổ bê tông.
Đ Tỷ lệ nước / xi măng 0,38
Đ Phụ gia Sika interplast Z (hoặc loại tương đương) tỷ lệ là 1,5% trọng lượng xi măng.
Đ Độ linh động (độ chảy): 13 –22 giây.
Đ Độ tách nước (độ lắng): không vượt quá 2% sau 3h và sau 24 h nước sẽ được hấp thụ lại.
Đ Cường độ: R7 tối thiểu đạt 15 N/ mm2, R28 500 N/ mm2
Đ Độ co ngót: sau 24 giờ thể tích co ngót không quá 2%.
Đ Thời gian đông kết bắt đầu lúc 3 giờ và kết thúc 24 giờ.
Đ Trình tự trộn vữa: nước – phụ gia – xi măng
Trước khi bơm vữa 24 giờ cần phải làm một số thí nghiệm tại hiện trường:
Đ Độ linh động: không vượt quá ở phòng thí nghiệm 3 giây và phải nằm trong khoảng 13-25giây.
Đ Độ tách nước: không quá 2%
Nếu không đạt phải thay đổi lượng nước từ 1-2lít cho 100Kg xi măng
Trong quá trình bơm vữa cần làm các thí nghiệm kiểm tra, ở đầu vào (thùng chứa) 3 thí nghiệm cho 1T xi măng, ở đầu ra 1 thí nghiệm cho một bó cáp. Kết quả phải đảm bảo yêu cầu như thí nghiệm trước khi bơm, nếu không đạt phải ngừng bơm và điều chỉnh lại thành phần. nếu độ linh động nhỏ hơn 13 giây thì tiếp tục bơm cho đến khi đạt 13 giây.
Khi trộn vữa phải dùng máy trộn, thời gian trộn ít nhất là 4 phút. Vữa trộn xong không được để quá 20 phút nếu quá phải kiểm tra lại độ linh động trước khi bơm.
Trình tự bơm vữa:
Đ Rửa ống ghen và bó cáp đã căng: Bơm nước sạch vào từng ống ghen sau đó thổi hết nước ra bằng máy bơm hơi ép. Công việc này còn có ý nghĩa làm trơn ống và chỉ làm trước khi bơm vữa.
Đ Bơm vữa vào ống: Vữa sau khi trộn đạt yêu cầu được bơm vào ống thông qua một ống bơm. Phía trước vữa bơm luôn có một lượng nước nhỏ để làm trơn ống. Trong quá trình bơm phải luôn luôn theo dõi đồng hồ áp lực bơm.
Đ Việc bơm vữa phải diễn ra liên tục, không được gián đoạn. Nếu xảy ra sự cố phải ngừng bơm, phải thổi sạch vữa ra khỏi ống ghen ngay lập tức và tiến hành bơm vữa lại sau khi đã khắc phục sự cố.
Đ Khoá van: khi vữa đã chảy từ đầu phía bên kia của ống, quan sát bằng mắt nếu thấy vữa có chất lượng (màu sắc, độ linh động) tương ứng với vữa trộn thì ngừng bơm và khoá van đầu này lại. Nếu ống có bố trí ống thăm vữa lại tiếp tục bơm đến khi thấy vữa chảy ra đầy ống thăm vữa thì khoá van tại ống này. Cuối cùng tăng áp lực bơm tiếp đến khi đạt áp lực yêu cầu ( 6 Kg/cm2), duy trì áp lực đó trong thời gian tối thiểu 5 giây rồi mới khoá van ở đầu bơm.
Các điểm cần chú ý trong quá trình bơm vữa
ỉ Đồng hồ áp lực phải được kiểm định trước khi sử dụng.
ỉ Máy bơm vữa có áp lực không quá 10 Kg/cm2.
ỉ Đường kính ống bơm vữa 15mm, ống thăm vữa 10mm.
ỉ Tốc độ bơm vữa không được vượt quá 10-12m/phút
ỉ Người phụ trách đóng khoá van vữa phải đeo kính phòng hộ đề phòng vữa áp lực cao bắn vào mắt
ỉ Sau căng kéo, công tác bơm vữa tiến hành càng sớm càng tốt. Việc gia tải hoặc thay đổi điều kiện chịu lực của dầm chỉ được làm sau 48h kể từ lúc bơm vữa xong
ỉ Không nên bơm vữa lúc trời nóng, nhiệt độ ngoài trời quá 320C
2.2.10. Di chuyển xe đúc
Việc di chuyển xe đúc chỉ được tiến hành sau khi căng kéo DƯL khối đúc theo trình tự như sau:
Đối với xe đúc VSL:
Đ Di chuyển hệ thống dầm ray ra vị trí khối mới, căng các thanh ứng suất gông dầm ray xuống mặt cầu với một lực 5T cho mỗi thanh. Đồng thời tách tất cả ván khuôn rời khỏi bề mặt bê tông, lắp đặt hệ thống các khung trượt đỡ dầm lăn (Roller bracket).
Đ Hạ kích chân trước cho các bệ trượt gắn ở dầm ngang phía trước gối hoàn toàn xuống bề mặt của dầm ray.
Đ Tháo các thanh ứng suất gông dầm ngang phía sau rời khỏi mặt bê tông sao cho các guốc hãm gắn ở dầm ngang phía sau tiếp xúc với mặt dưới của cánh trên của dầm ray.
Đ Bôi mỡ vào các mặt tiếp xúc giữa dầm ray với các tấm trượt để giảm ma sát.
Đ Kiểm tra tổng thể đảm bảo chắc chắn rằng không có bất cứ một vật nào cản trở sự di chuyển của xe đúc về phía trước trong lúc di chuyển xe đúc (ví dụ các thanh xuyên táo giữa ván khuôn thành, ..).
Đ Nối xy lanh đẩy với bơm, hoạt động bơm đẩy xe đúc về phía trước đến vị trí thiết kế để đúc khối mới. Vì hành trình của xy lanh có hạn nên quá trình đẩy lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần được một chiều dài tương ứng với hành trình lớn nhất của xy lanh.
Đối với xe đúc của Cầu 12 tự chế tạo:
Đ Tách tất cả ván khuôn rời khỏi bề mặt bê tông, lắp đặt hệ thống các khung trượt đỡ dầm lăn (Roller bracket).
Đ Dùng hai kích 100T nâng chân trước của xe đúc rời khỏi mặt dầm ray. Tháo bỏ các đệm gỗ kê chân sau của xe đúc với mặt dầm ra bằng cách nới lỏng các thanh ứng suất neo chân sau xe đúc.
Đ Di chuyển hệ thống dầm ray ra vị trí khối mới, căng các thanh ứng suất gông dầm ray xuống mặt cầu với một lực 5T cho mỗi thanh.
Đ Hạ kích cho chân chạy phía trước gối hoàn toàn xuống bề mặt của dầm ray.
Đ Tháo các thanh ứng suất gông dầm ngang phía sau rời khỏi mặt bê tông sao cho các guốc hãm gắn ở dầm ngang phía sau tiếp xúc với mặt dưới của cánh trên của dầm ray.
Đ Tiến hành kiểm tra tổng thể đảm bảo chắc chắn rằng không có bất cứ một vật nào cản trở sự di chuyển của xe đúc về phía trước trong lúc di chuyển xe đúc (ví dụ các thanh xuyên táo giữa ván khuôn thành, ..).
Đ Nối xy lanh đẩy với bơm, hoạt động bơm đẩy xe đúc về phía detrước đến vị trí thiết kế để đúc khối mới. Vì hành trình của xy lanh có hạn nên quá trình đẩy lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần được một chiều dài tương ứng với hành trình lớn nhất của xy lanh.
Các chú ý khi chuyển xe đúc
ỉ Phải chắc chắn rằng dầm ray đã được gông và kê giữ chắc chắn, không nghiêng lệch, không gẫy khúc, độ dốc không quá 1%.
ỉ Hành trình của hai xy lanh đẩy phải đồng đều. Nếu có hiện tượng bơm và kích vẫn hoạt động mà xe đúc không di chuyển, thì phải ngừng bơm, kiểm tra tìm rõ nguyên nhân.
ỉ Các khung trượt đỡ dầm lăn của ván khuôn phải ở vị trí thẳng đứng, không được nghiêng lệch. Muốn vậy phải dùng các nêm gỗ để đệm giữa bản đệm của thanh ứng suất với đáy bản mặt cầu. Các thanh ứng suất treo khung trượt được căng với một lực 10 T cho mỗi thanh.
ỉ Thường xuyên kiểm tra dầu mỡ bôi trơn cho các bộ phận di chuyển của xe đúc.
2.2.11. Thi công các khối tiếp theo của dầm hẫng
Việc thi công các khối tiép theo của dầm hẫng lặp lại các bước đã được trình bày trong phần 2.2 các mục từ 2.2.2 đến 2.2.10 tương ứng với kích thước hình học của dầm theo thiết kế.

2.3. THI CÔNG ĐOẠN DẦM ĐÚC TRÊN ĐÀ GIÁO
Theo công nghệ thi công, đoạn dầm này được đúc tại chỗ trên đà giáo. Về tiến độ, đoạn dầm này nên hoàn thành trước khi khối cuối cùng của dầm hẫng tương ứng được bắt đầu đúc.
2.3.1. Lắp đặt đà giáo thi công và thử tải
Đà giáo để thi công đoạn dầm được làm bằng thép hình. Nếu phía dưới đà giáo là nền đất thì nền phải ổn định. Đà giáo phải được thử tải để khử lún tại gối cũng như xác định độ võng của nó khi chịu lực.
Thời gian thử tải diễn ra cho đến khi tắt lún tại gối. Tải trọng thử với hệ số an toàn tối thiểu là 1,5.
2.3.2. Phân đợt đổ bê tông
Đoạn dầm đúc trên đà giáo được đổ bê tông làm 2 đợt
Đ Đợt 1: Đổ bê tông bản đáy và 2 bên thành hộp đến hết chiều cao hốc neo của các bó cáp đáy.
Đ Đợt 2: Đổ phần còn lại

Hình 17. Phân đợt đổ bê tông khối đúc trên đà giáo

2.3.3. Đặt gối
Phương pháp lắp đặt gối tương tự như việc lắp đặt gối chính đã được trình bày chi tiết trong mục c của phần 2.1.
2.3.4. Lắp đặt ván khuôn đáy, ván khuôn thành, ván khuôn đầu đốc, ván khuôn hộc neo (mố neo) buộc cốt thép và đổ bê tông đợt 1.
Các loại ván khuôn trên được lắp ghép bằng các tấm ván khuôn định hình và các tấm ván khuôn đặc biệt.
Các giá trị cao độ ván khuôn phải bao gồm giá trị độ vồng của dầm và giá trị biến dạng (độ võng) của đà giáo tương ứng với tải trọng từng đợt đổ bê tông. Giá trị độ võng của đà giáo được xác định thông qua tính toán hoặc thử tải thực tế.
Đối với bê tông đợt 1 không nhất thiết phải chỉnh cao độ ván khuôn thành ngoài. Việc này nên làm sau khi đổ bê tông đợt 1 lúc đó đà giáo đã có biến dạng tương ứng với tải trọng bê tông đổ cho đợt này.
Cốt thép được đặt với những yêu cầu giống như việc đặt cốt thép cho các khối của dầm hẫng. Các thanh ứng suất cũng được kéo thử trước khi đặt vào vị trí.
Công việc đổ bê tông được tiến hành sau khi nghiệm thu ván khuôn, cốt thép với những quy định của công tác bê tông.
2.3.5. Lắp ván khuôn nóc, ván khuôn nóc thànhngoài, buộc cốt thép và đổ bê tông đợt hai.
Ván khuôn nóc cũng được lắp ghép bằng các tấm ván khuôn thép tương tự như ván khuôn đáy.
Tính toán và điều chỉnh cao độ cho ván khuôn làm tương tự như đã làm cho ván khuôn đáy tại những mặt cắt tương ứng.
Hai bó cáp bản trên TE1 thi công theo trình tự sau:
Đ Gia công đầu neo chết (đầu cố định) kiểu VSL.
Đ Cắt và luồn cáp qua đầu neo chết
Đ Đặt nút gỗ, vòng khuyên thép, ống thoát vữa
Đ Đặt ống ghen. Chú ý tại đầu neo chết, giữa nút gỗ, ống ghen, và vòng khuyên thép đảm bảo kín không cho vữa lọt vào trong ống ghen trong lúc đổ bê tông.
Đ Đánh dấu đầu của từng tao cáp theo từng cặp đối xứng qua trục thẳng đứng. Số liệu này phải được lưu giữ cho đến lúc lắp đầu neo để căng kéo bó cáp tránh nhầm đầu, dẫn đến hiện tượng chéo cáp.
Đ Dùng đòn gánh cẩu bó cáp đưa vào vị trí. Cố định ống ghen giống như cố định ống ghen của khối đúc hẫng.
Đ Các công việc trên nên làm ở ngoài và chỉ đặt bó cáp vào vị trí sau khi đã buộc xong cốt thép lưới dưới của bản mặt dầm.
Khi các công việc chuẩn bị đã hoàn thành, bê tông được đổ theo trình tự từ vị trí thấp đến vị trí cao từng vệt ngang cầu.
2.4. THI CÔNG KHỐI HỢP LONG
Khối hợp long là khối cuối cùng để nối các dầm hẫng với đoạn dầm đúc trên đà giáo hoặc nối các dầm hẫng với nhau tạo thành dầm liên tục. Trình tự thi công khối hợp long loại này trải qua các bước sau:
(a) Tháo bỏ xe đúc.
(b) Bố trí đà giáo ván khuôn cho đốt hợp long
Ván khuôn được treo thông qua các dầm đỡ và các thanh ứng suất qua các lỗ chừa sẵn ở đầu dầm hộp. Ván khuôn có cấu tạo tương tự như ván khuôn khối đúc trên đà giáo K10 (hình 18).
Đặt các thanh ứng suất giằng chéo để giữ ổn định ngang (chống hiện tượng đung đưa của cánh dầm hẫng) và căng chúng với một lực 10T cho mỗi thanh (hình 19)

Hình 18. Đà giáo ván khuôn khối hợp long

Hình 19. Thanh ứng suất ổn định dầm theo phương nằm ngang

(c) Lắp đặt cốt thép, đổ bê tông khối hợp long.
Việc lắp đặt cốt thép và đổ bê tông tiến hành tương tự như đối với các khối đúc khác.
(d) Căng kéo cáp DƯL đợt I
Khi bê tông đạt cường độ = 75% cường độ thiết kế. tiến hành căng kéo 50% số bó cáp tại bản đáy (kéo đồng thời hai phía thượng và hạ lưu đối xúng qua tim cầu), trình tự căng kéo sẽ do kỹ sư tư vấn thiết kế quy định.
Chỉ căng kéo cáp đáy khi cường độ vữa ở gối đã đạt cường độ yêu cầu. Trước khi căng kéo cáp đáy, các bu-lông liên kết hai thớt gối phải được tháo ra, các tấm ván khuôn phải tách khỏi mặt bê tông (trừ ván khuôn đáy).
(e) Vệ sinh và đổ vữa cho gối chính
Đây là công việc mất nhiều thời gian nhất. Vệ sinh bề mặt bê tông và các lỗ chờ chân neo của gối bằng nước áp lực cao, sau đó dùng máy hơi ép thổi hết nước. Việc kiểm tra xem nước đã được thổi ra hết chưa đòi hỏi phải hết sức tỉ mỉ, cẩn thận vì chỉ cần một lượng nước rất ít đọng lại trong các lỗ chờ cũng sẽ làm thay đổi thành phần của vữa bơm vào đó.
Sau khi vệ sinh xong, bề mặt bê tông tại đây được giữ ẩm trong vòng 24h trước khi đổ vữa vào đó.
Vữa được trộn bằng máy và được bơm vào vị trí theo trình tự từ trong ra. Dùng các sợi cáp cường độ cao dài khoảng 2m chọc vào bề mặt vữa làm cho vữa chảy được dễ dàng. Trường hợp vữa không bơm được (Sikagrout 214-11) phải đổ bằng xô vào một cái máng đặt ở cạnh gối và dùng cáp để chọc (cáp cường độ cao 12,7).
Lượng vữa bơm vào phải đủ tiếp xúc 100% với mặt dưới của thớt gối dưới và phải cao hơn mặt dưới gối tối thiểu 5mm. Dòng chảy vữa phải liên tục không bị gián đoạn.
Việc bảo dưỡng vữa gối làm liên tục trong 7 ngày.
(f) Nới lỏng các thanh ứng suất cố định tạm khối đỉnh trụ
(g) Căng kéo các bó cáp đáy còn lại
Khi bê tông đạt 100% cường độ thiết kế căng kéo toán bộ các bó cáp dưới còn lại. Trình tự căng kéo do kỹ sư thiết kế quy định.
(h) Tháo thanh ứng suất cố định tạm thời trong khối đỉnh trụ, tháo gối kê tạm
Các thanh ứng suất được hạ ứng suất bằng kích thông tâm loại lớn theo trình tự đối xứng. Chú ý trước khi bắt đầu hạ ứng suất piston luôn phải duỗi trước tối thiểu 3cm.
Tháo các thanh ứng suất ra khỏi vị trí:
Di chuyển khối kê tạm ra khỏi vị trí bằng cách dùng máy khoan hơi ép khoan phá lớp vữa giữa gối kê tạm và đỉnh trụ. Dùng pa-lăng xích hoặc pa-lăng cáp kéo các gối kê tạm ra.
Vệ sinh và tân trang lại đỉnh trụ. Chú ý không để các mảnh vữa rơi vào trong các ống gen của thân trụ.
(i) Bơm vữa lấp lỗ ống ghen của thanh ứng suất trong, khối đỉnh trụ và thân trụ
Dùng vữa xi măng bơm vào các lỗ của thanh ứng suất bằng máy bơm vữa chuyên dùng.
Cần phải chú ý các điểm sau đây:
ỉ Do nhiều nguyên nhân khác nhau quá trình thi công có thể có sai số dẫn đến cần điều chỉnh điều chỉnh cao độ tại khối hợp long. Điều chỉnh cao độ có thể dùng phương pháp chất tải, tải trọng chất thêm phải do TVTK quyết định.
ỉ Trong quá trình thi công, dầm hẫng trên trụ kế tiếp cần thường xuyên theo dõi ảnh hưởng của co ngót, từ biến của bê tông theo thời gian đến độ vồng của dầm hẫng khi đã thi công xong để kịp thời điều chỉnh cho dầm bên này.
ỉ Trình tự căng đáy cáp trước, trong và sau khi đổ bê tông theo quy định của thiết kế. Việc đo độ dãn dài của các bó cáp giống như đã trình bày trong mục 2.2.8, phần (f).
ỉ Các thanh thép liên kết giữa đỉnh trụ và khối đỉnh trụ được cắt theo chỉ định của kỹ sư thiết kế.
2.5. ĐO ĐẠC
Công tác khảo sát, đo đạc trong khi thi công là một công việc hết sức quan trọng nên phải làm thường xuyên và đòi hỏi độ chính xác cao.
(a) Đặt mốc cao độ
Khi thi công các cặp khối của dầm hẫng, bê tông được đổ cho từng khối riêng biệt nên dầm hẫng có khả năng “bập bênh”, do đó mốc cao độ phải đặt vào tim ngang trụ và phải thường xuyên kiểm tra so với mốc cao độ thiết kế để phát hiện xem có bất kỳ có sự sai khác nào không.
(b) Thời điểm đo đạc
Chênh lệch về nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến độ võng của dầm hẫng nên cao độ chỉ được nghiệm thu vào lúc nhiệt độ không khí 25C
Dầm hẫng có khả năng tự “bập bênh” nếu có lệch tải giữa hai đầu nên phải nghiệm thu cao độ ván khuôn cả hai khối của một cặp khối xong mới tiến hành đổ bê tông.
Tại mỗi mặt cắt của dầm hẫng, các giá trị cao độ lấy ở các thời điểm:
Đ Trước khi đổ bê tông
Đ Sau khi đổ bê tông
Đ Sau khi căng kéo
Đ Sau khi lao xe đúc và buộc xong cốt thép cho cặp khối mới
(c) Đo đạc độ vồng của dầm theo các giai đoạn thi công
Kết thúc xong một cặp khối dầm, trước khi đổ bê tông cho cặp khối mới, phải đo đạc lại các số liệu về độ vồng để kiểm tra mức độ sai số và sai số đó phải nằm trong sai số cho phép
Việc đo đạc phải tiến hành vào thời điểm mà nhiệt độ không thay đổi trong ngày và có nhiệt độ 25C:
Đ Bó cáp của cặp khối trước đó đã được căng xong
Đ Xe đúc đã được lao đến vị trí sẵn sàng cho việc đúc khối mới
Đ Cốt thép của khối mới đã được đặt
Vị trí đo đạc: dọc theo chiều dài dầm tại 3 vị trí
Đ Tim cầu
Đ Mép thượng lưu cầu
Đ Mép hạ lưu cầu
Riêng đo đạc độ vồng của dầm khi thi công khối hợp long được đo đạc tại thời điểm sau:
Đ Sau khi thi công xong khối cuối cùng của dầm hẫng
Đ Sau khi lắp đà giáo ván khuôn thi công khối hợp long
Đ Sau khi thi công xong khối hợp long
Độ vồng toàn cầu sẽ được đo đạc sau khi khối hợp long cuối cùng của cầu hoàn thành.
Nói chung, việc đo đạc độ vồng phải gắn liền với sơ đồ đặt tải đã được người thiết kế tính đến tương ứng với giai đoạn thi công.

PHẦN III. AN TOÀN LAO ĐỘNG

* Trước khi bước vào công việc sử dụng xe đúc, Ban chỉ huy công trường phải tổ chức cho cán bộ,công nhân trong công trường nắm bắt được nguyên tắc làm việc của xe đúc hẫng,từ đó các an toàn viên của công ty có các hướng dẫn cụ thể cho cán bộ và công nhân trong công trường thực hiện được an toàn lao động trong qúa trình sử dụng xe đúc.
* Ngoài các quy định về an toàn lao động đã được nêu trong bộ luật lao động, việc thi công dầm cầu theo công nghệ này cần phải chú ý các điểm sau đây:
3.1. AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG KHI LẮP, VẬN HÀNH VÀ THÁO XE ĐÚC
Vì xe đúc được lắp, vận hành và tháo trên mặt cầu, chiều cao thi công lớn, thường là 6m, nên phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Đ Công nhân làm việc phải đeo dây an toàn
Đ Phía dưới vị trí xe phải có lưới an toàn
3.2. AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG KHI ĐỔ BÊ TÔNG
Nếu đổ bê tông bằng máy bơm, các điểm dưới đây cần phải chú ý:
Đ Khoảng cách từ máy đến vị trí góc chuyển ống thẳng đứng không nhỏ hơn 20m. Điều này sẽ triệt tiêu áp lực thẳng đứng của cột bê tông tác dụng trở lại máy.
Đ Đường ống càng ít góc chuyển hướng càng tốt và phải được cố định thật chắc chắn.
Đ Thường xuyên kiểm tra độ mài mòn của ống, lập sổ theo dõi. Không được dùng ống có độ mài mòn lớn.
Đ Tuyệt đối không được đứng chính diện với ống bơm (đầu bê tông ra).
Đ Sau khi cấp bê tông xong, trước khi thông ống (để đẩy phần bê tông còn lại trong ống ra), nếu thông ống bằng máy nén khí có áp lực cao (5080 bar) phải kiểm tra cẩn thận hệ thống an toàn, các đầu nối ống dẫn khí. Không được tự động điều chỉnh van an toàn của máy nén khí.
3.3. AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG KHI CĂNG KÉO DỰ ỨNG LỰC
Đ Trước khi bắt đầu căng kéo dự ứng lực phải lắp các biển báo, barie tại những vị trí dẫn tới khu vực làm việc.
Đ Khu vực căng kéo phải đảm bảo thuận tiện, dễ thao tác.
Đ Tuyệt đối không đứng phía sau kích hoặc neo trong khi căng;
Đ Phải có tường chắn bảo vệ hai đầu đối diện của neo và kích.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

CHUYÊN MỤC

LƯU TRỮ

%d bloggers like this: